Kết quả 1 đến 2 của 2

Chút cảm nhận về một bài thơ Đường Luật. (Hồ Tây Tức Cảnh)

  1. #1
    Administrator's Avatar
    Administrator
    » Bài viết1.175
    » Đồng: 2.528
    » Hoa: 15
    » Đã cảm ơn2.927
    » Được cảm ơn2.474
    » Yahoo

    Chút cảm nhận về một bài thơ Đường Luật. (Hồ Tây Tức Cảnh)

    .

    Chút cảm nhận về một bài thơ Đường Luật.

    Cụ Việt Thanh Phạm Vũ Lộc năm nay 91 tuổi được biết đến là một tác giả say mê thơ và có nhiều sáng tác thuộc nhiều thể loại khác nhau. Tôi đã nhiều lần đọc và nghe thơ của cụ. Nhưng ấn tượng đậm nét nhất trong tôi là ở thể loại thơ Đường luật. Theo tôi biết thì ở làng Đôn Thư, cụ Lộc được đánh giá là cây đại thụ rất am tường về thể thơ này. Đọc thơ Đường luật của cụ Lộc, điều dễ nhận thấy là rất chuẩn chỉ về câu chữ, niêm luật với những nguyên tắc khắt khe, chặt chẽ. Và người ta có thể cho rằng những bó buộc về niêm luật sẽ làm cho thơ trở nên khô cứng, công thức. Vậy mà,ở nhiều bài thơ của cụ Lộc, niêm luật không ràng buộc được sự cất cánh của tứ thơ, từ ngữ, câu chữ và tâm hồn lãng mạn đầy xúc cảm của người sáng tác. Trong phạm vi bài này, chỉ xin bày tỏ sự cảm nhận thoáng qua vềmột bài thơ Đường luật của cụ Lộc:

    HỒ TÂY TỨC CẢNH

    Bên quán Hồ Tây, một buổi chiều

    Giữa mùa lá rụng, gió hiu hiu...

    Dăm con buồm trắng trôi lờ lững,

    Đôi cánh chim xanh lượn dập dìu.

    Men rượu Lưu Linh chừng [1] thấm thía,

    Hồn thơ Lí Bạch ý[1] phiêu diêu.

    Người đây, cảnh đấy, ai tri kỉ...

    Văng vẳng xa đưa tiếng nhạc Thiều.

    Ai đã từng đến Hồ Tây-Hà Nội sẽ có cảm nhận riêng về cảnh sắc nơi này. Cụ Lộc xúc cảm trước cảnh Tây Hồ trong một buổi chiều mùa thu. Hai câu thơ đầu chỉ là giới thiệu như nhiệm vụ quen thuộc của nó trong bài “bát cú”. Địa điểm, thời gian được nói tới một cách cụ thể nhưng vẫn gợi được cảm giác thơ mộng khác thường. Đó phải chăng là nhờ tác giả miêu tả được cái gió đặc trưng của mùa thu Việt Nam “gió hiu hiu”. Từ láy “hiu hiu” không chỉgợi cho người đọc cảm giác về cái gió heo may nhè nhẹ, xao xác mà còn gián tiếp gợi tả một nỗi bâng khuâng, man mác rất nhạy cảm của tâm hồn thi sĩ. Hoàn cảnh thơ như báo hiệu một vẻ riêng tư kín đáo trong tâm trạng tác giả.

    Quả thật, đọc 4 câu thơ tiếp theo, người vô tình đến mấy cũng cảm nhận được nỗi bâng khuâng, mơ hồ, bàng bạc trong tâm trạng nhà thơ. Cảnh thiên nhiên tưởng là thật mà lại như hư, tưởng như có mà lại như không, tưởng như hiện hữu mà lại mơ hồ, tưởng động mà lại là tĩnh. Người làm thơ như đang để tâm hồn đắm chìm vào cảnh vật đến miên man. Ta hãy để ý các từ ngữ miêu tả thiên nhiên: “Dăm con buồm trắng”, “Đôi cánh chim xanh”, “Men rượu”, “Hồn thơ” và tâm trạng con người: “Chừng”, “Ý”. Tất cả đều không hề xác định cụ thể, rõ ràng. Đặc biệt, bốn từ láy đặc tảđặt ở cuối bốn câu thơ thì thật không có gì tuyệt hơn. Nhà thơ đã tìm được những từ diễn tả thiên nhiên và con người chính xác và tinh tế đến độ thần tỉnh. Con người hoà quyện vào thiên nhiên trong một trạng thái cực kì ngất ngây, mơ mộng. Cảnh dường như chỉ tồn tại trong tâm tưởng người thơsay sưa vì men rượu Lưu Linh, phiêu diêu cùng hồn thơ Lí Bạch, tưởng như ở ngay trước mắt mà lại ảo huyền, xa xăm quá. Đúng là cái cảm giác của người say rượu, say thơ thả hồn vào thiên nhiên thơ mộng.

    .......

    Đến hai câu kết, nhà thơ mới như chợt dứt ra khỏi trạng thái huyền ảo, bay bổng cùng thiên nhiên để trở về thực tế với một câu hỏi thảng thốt. Nhưng tìm được bạn tri kỷ đâu phải dễ. Ai đó biết cho lòng ta chăng để có thể sẻchia cùng ta phút giây hiếm hoi của niềm say mê, ngây ngất? Hay chỉ tiếng nhạc thiều văng vẳng, cũng mơ hồ, xa xăm như lòng người vậy.

    Bài thơ mang phong vị cổ điển rất thú vị, chuẩn chỉ về niêm luật, kết cấu, vềyêu cầu đối nhau chặt chẽ ở hai câu thực, luận; ngôn ngữ chính xác, điêu luyện, phong phú, tinh tế mà vẫn tự nhiên, thoải mái, sinh động.

    Như thế đấy, thơ Đường luật không hề gò bó như ai đó vẫn tưởng. Phải chăng sự gò bó lại chính là ở tâm hồn, xúc cảm, ở khả năng chiếm lĩnh thiên nhiên, cuộc đời, khả năng vận dụng ngôn ngữ của từng tác giả.

    _Thanh Thảo _

    [Ngọc Thanh]

    [Chỉ có thành viên mới thấy được link. ]

    [Chỉ có thành viên mới thấy được link. ]

    ĐÔI LỜI NHẬN XÉT VỀ CÁCH HÀNH VĂN CỦA TG NGỌC THANH

    Nếu nói Tác giả - Thầy giáo Ngọc Thanh là người viết văn hay, điêu luyện, sành sỏi thì cũng chưa đủ, và cũng chưa nói lên được điều gì cả.

    Văn phong, bút pháp của thầy rất tài tình, linh hoạt, khi thì duyên dáng, ý nhị, phơn phớt, thoảng qua như hương bưởi, hương nhài..., khi lại gọn ghẽ, chắc nịch, tinh vi như “con chip” trong máy tính, không dư một câu, không thiếu một chữ! Bút pháp này lúc tỉ mỉ, thận trọng, tựa như nụ cười mỉm chi e lệ của cô gái quê, hoặc có lúc “thâm cung bí hiểm” như nụ cười của nàng Molisa; có lúc lại ào ạt, xoáy vào, òa ra, bóc tách tất tật những gì ẩn giấu bên trong, giống như ai đó vô tư cười hể hả, sảng khoái, há to mồm để người ta thấy được cả răng, lưỡi, thậm chí cuống họng[!] Văn phong này có thể “khoe” được vốn kiến thức , hiểu biết sâu rộng của người viết, “khoe” được tư duy, tính cách sâu sắc, thâm thúy, tàng ẩn, khoáng đạt như bể rộng, trời cao, như rừng già thâm u không ai biết lối về... Lối hành văn như thế thường thấy ở các triết gia, nhà phê bình, nhà lý luận, nhà thông thái, nhà hùng biện, các sứ giả...Đây phải gọi là “Văn phong bác học” mới xứng tầm cỡ của nó! Tôi đã từng đọc rất nhiều sách đủ loại, nên không xa lạ gì với các bài viết bình và phê bình như của thầy. Người viết dẫn dắt, thuyết phục, định hướng đưa ta đến một vị trí, một chân lý, một bối cảnh...khó có thể cưỡng lại. Họ dùng mọi lý lẽ sắc bén, tinh tế nhất, thậm chí còn đưa ra những dẫn chứng rất khoa học , rất sách vở, hoặc cụ thể hơn qua vốn sống, kinh nghiệm và tri thức mà họ có được để người đọc phải đồng tình, ủng hộ họ tuyệt đối! “Bác học” là ở chỗ đấy đấy! Từ bút pháp, cách hành văn này, mà bài thơ, văn nào đó có thể chúng ta chưa hiểu ngóc ngách, tường tận, chưa thấm hết cái hay, cái tinh túy, cốt lõi của nó, nhưng họ đã vạch ra, trần trụi trước mắt ta , chỉ tận từng chỗ, từng khe hở, từng kẽ nhỏ để ta hiểu sâu, hiểu thấu từng ý tứ của bài như hiểu rõ từng nếp nhăn trên mặt của ta vậy! Bút pháp ấy, có khi như rả rích, êm ái đưa ta vào “mê cung”...,có lúc lại như dựng người ta phắt dậy, khua khoắng, đánh thức tất cả các giác quan để người ta có thể nhìn, nghe, ngửi, nếm, sờ , chạm vào tất cả các vấn đề, các chi tiết tiềm tàng trong bài viết từng chút một!

    Tôi thật phục TG Ngọc Thanh, khg phải bất cứ người nào cũng viết được thế! Tôi nghĩ thầy nên dành thời gian, viết phê bình văn học thì đúng “gu” của thầy hơn, chứ dạy học trò thôi thì không đủ tầm năng lực của thầy. Bài thơ HGTC; các bài bình của thầy trên trang Đôn Thư , trang thơ Đường Unesco ; vốn kiến thức sâu rộng của thầy về Hán văn, thơ Đường luật...quả thật , nếu ngoài TG ra, thì khg ai có thể hiểu, cảm nhận sâu xa bằng chính TG, để viết nên được những tâm tư, suy nghĩ thầm kín nhất, chính xác nhất đến tận chân tơ, kẽ tóc...Người ta thường nói “Văn mình, vợ người” là ý này đấy! “Văn mình” chỉ có mình hiểu được, hay, dở, đúng , sai , ưu , khuyết...chỗ nào mình biết rõ nhất. Chúng ta đứng bên ngoài, dù tài giỏi đến đâu cũng không hiểu hết ý đồ, tư duy, cảm nhận của TG, trừ khi người sống chung bên thầy hàng nhiều năm tháng, may ra mới có thể hiểu rõ được mà thôi!

    DIÊN MINH
    Chữ Ký của: Administrator

  2. 4 thành viên đã cảm ơn Administrator cho bài viết này:
    cobemuadong (22-08-2013),Lạc Hoa (18-08-2013),nguyenxuansang141 (21-08-2013),phong phong (14-08-2013)

  3. #2
    nguyenxuansang141's Avatar
    Thành Viên Hoàn Mỹ
    » Bài viết2.559
    » Đồng: 3.836
    » Hoa: 33
    » Đã cảm ơn331
    » Được cảm ơn228
    » Yahoo

    Nỗi buồn “Tri Kỉ” trong bài thơ “Hồ Tây Tức Cảnh” của cụ Việt Thanh - Phạm Vũ Lộc

    Nỗi buồn “Tri Kỉ” trong bài thơ “Hồ Tây Tức Cảnh” của cụ Việt Thanh - Phạm Vũ Lộc


    Hồ Tây Tức Cảnh

    Bên quán Hồ Tây, một buổi chiều
    Giữa mùa lá rụng, gió hiu hiu…
    Dăm con buồm trắng trôi lờ lững,
    Đôi cánh chim xanh lượn dập dìu.

    Men rượu Lưu Linh chừng (1) thấm thía,
    Hồn thơ Lí Bạch ý(1) phiêu diêu.
    Người đây, cảnh đấy, ai tri kỉ…
    Văng vẳng xa đưa tiếng nhạc Thiều.


    Việt Thanh - Phạm Vũ Lộc

    Ghi chú: (1): Nghe chừng, ý chừng, cảm thấy một cách mơ hồ, thấp thoáng không cụ thể, rõ ràng.

    Tôi và các bạn - những người cùng trang lứa với tôi, thuộc lớp người “Trẻ” sinh sau đẻ muộn, đã bỏ qua cái thời Tổ Quốc đầy bão tố, bỏ qua cả một thời kì dài mà nền văn học, thi ca của Đất Nước có những thay đổi, chuyển biến sâu sắc.

    Nhưng không phải vì thế mà tôi và các bạn không được thừa hưởng một kho tàng những tác phẩm đồ sộ của ông cha, không phải vì tiếp cận với một nền thi ca mới mà không được dạy về nền thi ca cổ đại, trung đại hay cận đại.

    Ngày hôm nay, khi xã hội đã phát triển vượt bậc nhờ sự tiến bộ không ngừng của khoa học thì cũng kéo theo sự vươn mình lớn mạnh của văn học và thi ca. Đó là nhờ sự sáng tạo trong lối viết, sự tự do trong cách nghĩ của những tác giả. Nhưng cũng nhờ một phần quan trọng không kém, đó chính là: Những sáng tạo của ông cha từ ngàn xưa vẫn còn được lưu giữ đến tận bây giờ, dạy cho chúng ta rất nhiều điều về luật thơ, nhịp điệu, phối âm… để chúng ta từ đó thỏa chí vung bút viết nên những kiệt tác.

    Thơ Đường Luật là một trong những thể thơ có ảnh hưởng vô cùng lớn ở nền thi ca Trung Đại và để lại dư âm đến tận bây giờ. Xuất hiện từ thời nhà Đường (Trung Quốc), thể thơ được xây dựng trên một hệ thống quy tắc phức tạp với những điều luật nghiêm khắc. Chính vì độ khó ấy nên những bài thơ làm theo thể thơ Đường Luật thường đạt đến độ chuẩn mực về niêm, luật, bố cục, hình thức, vần, điệu… Hàng trăm bài thơ đến ngày nay vẫn còn giá trị như ban đầu về cả nội dung và nghệ thuật, trở thành những áng thơ bất hủ.

    Khi thể thơ Đường Luật đến Việt Nam vẫn được giữ nguyên những quy tắc như ở quê hương của nó. Các nhà thơ Việt Nam yêu thích thể thơ này có rất nhiều nhưng đạt được thành công thực sự thì không có nhiều. Nổi bật nhất và được nhiều người Việt yêu mến nhất có thể kể đến: Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tế Xương, Bà Huyện Thanh Quan…

    Những tác giả khác tuy không nổi tiếng nhưng cũng đã để lại một số bài thơ Đường Luật có giá trị. Nếu tìm hiểu sâu hơn vào nền thi ca Việt, ta sẽ thấy rất nhiều bài thơ Đường của các nhà thơ không chính thức vẫn còn được lưu truyền đến nay. Những bài thơ ấy tuy ít được bạn đọc biết đến, nhưng trong thi đàn lại một thời tạo được nhiều cảm xúc cho các nhà phê bình và nhận được không ít lời khen ngợi tấm tắc.

    Hôm nay, chúng ta cùng đến với làng Đôn Thư thuộc xã Kim Thư, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông, nay là ngoại thành Hà Nội – một ngôi làng có truyền thống yêu văn thơ từ lâu đời, để ngâm nga chút thơ của Cụ Việt Thanh - Phạm Vũ Lộc. Cuộc đời đã trải qua chin mươi mốt mùa lá rụng, Cụ Phạm Vũ Lộc sáng tác rất nhiều với các thể loại phong phú, đặc biệt là: Thơ chúc Tết, câu đối mừng Xuân… vô cùng đặc sắc, giữ gìn được nét đẹp văn hóa của dân tộc và sự trong sáng của tiếng Việt.

    Tôi xin được trích một bài thơ mừng Xuân Quý Tị của Cụ:

    CẢNH ĐẸP XUÂN TƯƠI

    Mai vàng rực rỡ đón Xuân tươi,
    Nắng đẹp tỏa lan… chiếu sáng ngời.
    Giấy trắng đề thơ mừng cuộc sống…
    Thiếp hồng khai bút chúc đường đời…
    Chè Sen- nâng chén… anh em tiếp…
    Trà Cúc- chạm ly… bạn hữu mời…
    Tuổi thọ, trời ban… còn xướng họa…
    “Đào nguyên- ngắm cảnh… mãi vui chơi…

    Mới đọc ta sẽ cảm thấy là thường, chưa có gì để gọi là đặc sắc. Nhưng xin các bạn đọc kĩ lại một lần nữa sẽ ngỡ ngàng một điều thú vị: Mỗi câu thơ đều có tên một loài hoa! Ấy là cách chơi chữ rất khéo của Cụ. Cả bài thơ như một vườn hoa đang chen nhau khoe sắc mừng Xuân về. Tôi xin không dẫn ra từng từ của mỗi câu mà để các bạn tự khám phá để thấy cái hay của tứ thơ.

    Sau đây tôi xin trích tiếp ba câu đối mừng Xuân Quý Tị của cụ, tất cả các từ đều đối nhau một cách hợp lý.

    1. - Tiễn Nhân Thìn: lưu luyến lúc chia tay, Rồng giao quyền cho Rắn, Rồng bay vút trời cao.
    - Đón Quý Tỵ: hân hoan khi gặp mặt, Rắn nhận chức của Rồng, Rắn bò nhanh đất rộng.

    2. - Thời trẻ tinh tường: Rắn khác Rồng, Rồng khác Rắn, Rắn, Rồng chia hai giống.
    - Tuổi già lẫn lộn: Rồng như rắn, Rắn như Rồng, Rồng, Rắn cùng một nòi.

    3. - Đường đời phức tạp: Rồng, Rắn quẩn quanh, khó mà hay: Rồng... Rắn
    - Lối sống phiền hà: Rắn, Rồng quấn quýt, dễ đâu biết: Rắn... Rồng.

    Và còn nhiều hơn nữa.

    Là bậc con cháu yêu thích thơ văn, sau đây, tôi xin được phép bộc lộ một chút cảm nhận của riêng mình về một bài thơ của Cụ mà tôi rất yêu thích, có tên: “Hồ Tây Tức Cảnh” với những lời thành kính nhất! Nếu có gì chưa đúng xin được Cụ và gia đình bỏ qua, cứ xem như “Bầy trẻ nhỏ còn chưa biết gì”.

    Bài thơ như sau:

    Hồ Tây Tức Cảnh

    Bên quán Hồ Tây, một buổi chiều
    Giữa mùa lá rụng, gió hiu hiu…
    Dăm con buồm trắng trôi lờ lững,
    Đôi cánh chim xanh lượn dập dìu.

    Men rượu Lưu Linh chừng (1) thấm thía,
    Hồn thơ Lí Bạch ý(1) phiêu diêu.
    Người đây, cảnh đấy, ai tri kỉ…
    Văng vẳng xa đưa tiếng nhạc Thiều.


    Việt Thanh - Phạm Vũ Lộc

    Ghi chú: (1): Nghe chừng, ý chừng, cảm thấy một cách mơ hồ, thấp thoáng không cụ thể, rõ ràng.


    Toàn bộ bài thơ là một nỗi buồn đi tìm người bạn tri kỉ của thi nhân.

    Đọc bài thơ này, cảm nhận đầu tiên và rất tự nhiên của một người xem thơ nhưng không biết lí luận, đó là: Hay!

    Khách quan mà nói, với thể thơ thất ngôn bát cú Đường Luật, bài thơ ngay lập tức tạo một cảm giác thú vị với người đọc. Chưa cần xét đến nội dung hay ý nghĩa, chỉ mới nghe cái nhịp thơ, những âm bằng trắc sắp xếp một cách hợp lí đã tạo ra một cảm giác mạch lạc trôi chảy, nên tạo được cảm giác rất khoái. Như vậy, tác giả đã đưa được cái: “Hồn thơ Lý Bạch” vào trong tác phẩm.

    Sau khi bình tĩnh hơn, ta xem lại bài thơ một lần nữa. Có thể nhận thấy tác giả viết bài thơ bên bờ Hồ Tây vào một buổi chiều mùa thu có lá rụng. Buổi chiều này có lẽ đã gây một ấn tượng mạnh trong lòng tác giả để viết nên bài thơ . Đặc biệt giữa không gian rộng thoáng như của Hồ Tây có thêm chút gió “hiu hiu” nhè nhẹ rất dễ gợi cảm giác mơ hồ, buồn man mác trong lòng thi nhân. Chút gió “hiu hiu” ấy giúp người đọc liên tưởng đến cảnh thu, trời thu về chiều có vẻ mệt mỏi và chậm chạp.

    Trong khung cảnh nhè nhẹ tựa lá rơi ấy xuất hiện “Dăm con buồm trắng trôi lờ lững” nhà thơ khéo léo khi thay cụm từ “Dăm con thuyền” thành “Dăm con buồm” bởi lẽ thuyền thì có nhiều loại, nhưng cái nhà thơ muốn nói ở đây là loại thuyền buồm: Một loại thuyền xuất hiện nhiều trong thơ ca và di chuyển nhờ sức gió. Bằng cách này nhà thơ đã diễn tả được sự chuyển động rất chậm của chiếc thuyền vì gió lúc này chỉ “hiu hiu” thổi. Màu trắng của cánh buồm tạo cảm giác hoài niệm về quá khứ gợi điều gì đó man mác buồn. Dưới bóng chiều Hồ Tây con thuyền buồm trôi “lờ lững” tại sao lại là trôi “lờ lững” mà không phải trôi “lững lờ”? Theo tôi nghĩ cách đảo ngữ ở đây không có dụng ý nghệ thuật gì hơn là để hợp luật bằng trắc của bài thơ, vì nếu đảo lại bài thơ đọc lên nghe rất ngượng.

    Cả ba câu thơ đầu đều miêu tả cảnh tĩnh, đến câu thơ thứ tư, nhà thơ chấm thêm một chút động bằng “Đôi cánh chim xanh lượn dập dìu”. Dù trời đã về chiều nhưng đôi chim xanh trên trời cao vẫn vỗ cánh “dập dìu” không chút gì mệt mỏi. Phải chăng ấy cũng là tấm lòng nhà thơ vẫn còn yêu đời lắm, còn tràn đầy sức sống ham muốn cống hiến thêm cho đất trời chứ chưa ngả về chiều như tuổi tác đang báo hiệu? Đôi chim xanh ở đây có thể là loài chim nhạn, người đọc có thể hiểu câu này theo nhiều cách: Thứ nhất có thể hiểu chữ “đôi” trong câu thơ là nói về một đàn chim đang vỗ cánh bay về tổ, không nhất thiết là hai con mà là nhiều con (đôi ba con chim) – với cách hiểu này người đọc dường như thấy được cảm giác lạc lõng, lẻ loi của tác giả trước cảnh Hồ Tây rộng lớn mà tĩnh lặng. Cách thứ hai có thể hiểu là chỉ có một cánh chim hoặc không có một cánh chim nào cả, tác giả đang tưởng tượng ra cho thêm cảnh thêm tình mà thôi – với cách hiểu này đọc giả có lẽ cảm nhận được sự mơ hồ trong tâm thức của nhà thơ, nhà thơ lúc này phải chăng đang cảm thấy nuối tiếc ngày đã qua?

    Như vậy, ở bốn câu thơ đầu là chút rung động nhẹ của thi nhân khi nhìn thấy cảnh chiều tàn bên bờ Hồ Tây, một chút buồn man mác và những ý niệm mơ hồ cùng tạo nên không gian trầm lắng trong tứ thơ: Nỗi buồn riêng “Ta với ta”.


    Đến với bốn câu thơ tiếp theo, nỗi buồn của thi nhân tăng dần theo mỗi câu thơ. Nhà thơ gợi về thời xa xưa với những hình ảnh được xem là tiêu biểu của thi nhân – Lý Bạch, người ham men rượu – Lưu Linh và nhạc Thiều – âm nhạc của một quốc gia (Quốc ca)… dường như, nhà thơ đang nhớ về một thời rực rỡ của thi ca, âm nhạc; nhớ về những kỉ niệm xưa và mong mỏi một người tri kỉ ngồi bên cạnh cùng nhâm nhi chén rượu ngâm thơ với mình.

    Hai câu thơ: “Men rượu Lưu Linh chừng thấm thía, - Hồn thơ Lí Bạch ý phiêu diêu.” Không thể tách riêng biệt, vì đó là một cặp, là hai câu đối nhau. Vì vậy khi cảm nhận hai câu thơ ta phải cảm nhận cùng một lúc, phải hòa lẫn “Men rượu Lưu Linh” với “Hồn thơ Lý Bạch” để hiểu thế nào là “thấm thía” đến “ phiêu diêu”. Nhà thơ như đang say cảnh, như lạc vào một miền không gian khác phiêu bồng hơn, mơ hồ hơn không gian ở thực tại khiến cho “ý” thơ ở đoạn này thoát ra những cảm xúc khác nhau: vui cũng có, buồn cũng có… nhưng nỗi buồn lớn nhất có lẽ vẫn là không có bạn hiền.

    Chợt nhớ bài thơ “Khóc bạn” của Nguyễn Khuyến có câu:

    Rượu ngon không có bạn hiền,
    Không mua không phải không tiền không mua.


    Hai câu thơ ấy có thể diễn tả được tâm trạng của thi nhân trong bài “Hồ Tây Tức Cảnh” lúc này – Buồn vì cô đơn! Để rồi ở câu thơ tiếp theo, nhà thơ phải thốt nên thành lời tự hỏi rằng: “Người đây, cảnh đấy, ai tri kỉ…” (?) Ai? Ai hiểu được lòng thi nhân lúc này? Phải chăng đó cũng là tâm trạng chung của các nhà thơ luôn đi tìm người hiểu được nỗi lòng của mình, đồng cảm với từng vần thơ và có thể sẻ bớt cảm xúc trong lòng mình? Hành trình đi tìm người bạn tri kỉ cùng bàn luận về thơ là một hành trình dài đầy gian nan của các thi nhân, nhiều người cho đến khi từ giã cõi trần mới tìm thấy người “Tri kỉ” ấy. Và đã từ lâu “Nỗi buồn không có bạn tri kỉ” đã trở thành “Người bạn tri kỉ” của các thi nhân… Có phải vì thế mà ở câu thơ cuối, nhà thơ nghe đâu đó trong tiềm thức tiếng nhạc rất nhỏ mà rất xa từ ngàn xưa vọng về?

    Văng vẳng xa đưa tiếng nhạc Thiều.



    Trang thơ khép lại nhưng trang đời thì vẫn mở và dường như rộng thêm ra. Nếu ai đã từng làm thơ, có yêu thơ thì mới hiểu hết được nỗi buồn của các thi nhân khi không tìm được người đồng hành. Và thực ra, ấy cũng là nỗi buồn của tất cả những người yêu nghệ thuật, sáng tác nghệ thuật luôn đi tìm người cảm nhận được những gì nhìn thấy trong tranh, nghe trong tiếng nhạc, đọc trong câu chữ… của mình.

    Như vậy, bài thơ “Hồ Tây Tức Cảnh” của cụ Việt Thanh - Phạm Vũ Lộc thực sự là lời thỏ thẻ tâm tình thật thấm thía đối với tất cả mọi người yêu thơ. Có thể coi bài thơ là lời nhắn nhủ tới người đọc: Hãy biết trân trọng những sáng tác nghệ thuật, trân trọng những giá trị ẩn sâu cần được cảm nhận không chỉ bằng một tâm hồn yêu nghệ thuật mà còn bằng một trái tim có trách nhiệm.


    Nguyễn Xuân Sang
    Sửa lần cuối bởi nguyenxuansang141; 09-09-2013 lúc 05:36 PM.
    Chữ Ký của: nguyenxuansang141
    "Nhà văn có khi Giàu ở vạn bài,
    Nhưng có khi Nghèo ở một chữ."
    -Khuyết Danh-


  4. 3 thành viên đã cảm ơn nguyenxuansang141 cho bài viết này:
    Administrator (21-08-2013),cobemuadong (22-08-2013),phong phong (21-08-2013)

Visitors found this page by searching for:

bài văn tả cảnh hồ tây

thơ về hồ tây

http:viptruyen.vn@forumf63chut-cam-nhan-ve-mot-bai-tho-duong-luat-ho-tay-tuc-canh-2012.htmlcác bài thơ đường luật nổi tiếngthơ đường nổi tiếngbai tho ve ho taynhững bài thơ hay về hồ tâyTHƠ ĐƯỜNG VIẾT VỀ HỒ TÂYCam nghi ve bai ca dao canh ho tayca dao về hồ tâythơ về hồ tây hà nộibai tho ve ho tay tam trang co donthơ hồ tâytho ve ho tayket cau trong bai ca.dao canh dep ho taythơ ca về hồ tâynhững câu thơ buồnCác bài văn hay tả hồ tâynhung bai tho hay noi ve canh dep cua ho taynhung baitho duong luatbài văn tả cảnh đẹp Hồ Tâybài văn tả cảnh đep Hồ Tâycau tho noi ve ho taycảm nghĩ về hồ tâynhung bai tho hay ve hồ tây
SEO Blog

Tag của Chủ đề này

Đánh dấu

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •  

Thế Giới Truyện Việt là diễn đàn phát triển văn học mạng, do hội văn học online thành lập và được thành lập trên tinh thần phi tôn giáo, phi chính trị. Đây là thế giới chung cho tất cả những người yêu thích văn học.

Chúng tôi sẽ giám sát triệt để và loại bỏ những bài viết vi phạm pháp luật; mang tính nhạy cảm và ảnh hưởng tới các vị lãnh đạo, liên quan đến chính trị, đảng, nhà nước.

Mặc dù, chúng tôi đã kiểm soát chặt chẽ, thế nhưng nếu thành viên viết những bài vi phạm pháp luật thì cũng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

©2013: Bản quyền thuộc về Hội Văn Học Online. Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản.

Khi xuất hiện các thông tin nhạy cảm, vi phạm pháp luật xin gởi tin nhắn tới email viptruyen.vn@gmail.com hoặc gọi số (84) 1278648476. Chúng tôi sẽ xử lý ngay lập tức.
DMCA.com

1155
Lượt xem